ChiemNguong.comCảnh đẹp, kiến trúc, kiệt tác nghệ thuật
Kiến trúc và công trình Việt Nam

Văn Miếu – Quốc Tử Giám: đi qua năm lớp sân, đọc Khuê Văn Các và hàng bia tiến sĩ

Văn Miếu – Quốc Tử Giám xếp năm lớp sân trên một trục thẳng. Cách đọc Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang, rùa đá đội bia tiến sĩ qua các thời, đứng đâu ngắm và ứng xử.

Frontal view through a tiled brick gateway toward a two-tiered pavilion with round sun-ray windows, old trees on both sides, quiet courtyard path, soft morning haze, muted red brick and moss palette

Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội là một quần thể xếp thành năm lớp sân nối tiếp nhau trên một trục thẳng bắc – nam, mỗi lớp ngăn bằng tường và cổng. Đi từ cổng ngoài vào sâu bên trong là đi qua một chuỗi không gian khép mở có chủ ý: sân rộng, cổng hẹp, rồi lại sân rộng, cho đến lầu Khuê Văn Các, giếng Thiên Quang với hai dãy bia tiến sĩ, khu thờ và cuối cùng là khu Thái Học. Theo sử cũ, Văn Miếu được dựng năm 1070 thời Lý Thánh Tông; Quốc Tử Giám, nơi dạy học cho con em quý tộc rồi mở rộng cho người học giỏi, lập năm 1076.

Phần lớn công trình nhìn thấy hôm nay là kết quả của nhiều lần tu sửa, nhiều nhất vào thời Lê và thời Nguyễn; khu Thái Học được dựng lại vào khoảng năm 2000. Vì vậy cách thưởng thức Văn Miếu không phải là tìm "nguyên bản thời Lý" mà là đọc cách bố cục không gian và những lớp chi tiết từ nhiều thời đặt cạnh nhau, đặc biệt là 82 tấm bia tiến sĩ, mỗi tấm mang dấu ấn thời mình được dựng.

Năm lớp sân: đi theo trục và biết mình đang ở đâu

Bảng dưới tóm tắt năm lớp không gian theo thứ tự đi từ cổng chính vào trong. Nhớ thứ tự này giúp bạn không bỏ sót và hiểu vì sao người xưa xếp như vậy.

LớpMở đầu bằngCó gìCảm giác không gian
Sân thứ nhấtCổng Văn Miếu MônLối đi giữa, hai bên cây xanh, hồ nhỏChuyển từ phố ồn sang khoảng lặng
Sân thứ haiĐại Trung MônCây cổ thụ, đường dẫn thẳng tới Khuê Văn CácTrục nhìn được "ngắm sẵn" vào lầu
Sân thứ baKhuê Văn CácGiếng Thiên Quang, hai dãy nhà bia tiến sĩTrung tâm, mở rộng, mặt nước phẳng
Sân thứ tưĐại Thành MônSân Đại Bái, hai dãy nhà bên, khu thờ chínhTrang trọng, khép lại, mái lớn
Lớp thứ nămCổng vào khu Thái HọcCông trình dựng lại trên nền Quốc Tử Giám xưaCao hơn, nhìn lại toàn trục

Mấu chốt của bố cục là trục giữa: các cổng thẳng hàng, lối đi chính nằm trên trục, nên đứng ở cổng ngoài bạn đã thấy được lớp cổng tiếp theo đóng khung trong lớp trước. Trước đây lối giữa dành cho người có địa vị cao nhất, người thường đi hai lối bên. Ngày nay khách đi lối nào cũng được, nhưng đi lối giữa mới thấy trọn hiệu ứng các khung cổng lồng vào nhau.

Khuê Văn Các: một lầu nhỏ mà thành biểu tượng

Khuê Văn Các là lầu hai tầng đứng giữa sân thứ hai và sân thứ ba, thường được ghi là dựng năm 1805 thời Nguyễn. Tầng dưới là bốn trụ gạch vuông, để trống, gió và ánh sáng xuyên qua; tầng trên là một gác gỗ vuông, bốn mặt có cửa sổ tròn với những thanh gỗ toả ra như tia sáng. Mái tám mái, hai tầng, đầu đao cong nhẹ. Tên lầu gắn với sao Khuê, một ngôi sao mà người xưa coi là chủ về văn chương, nên những ô cửa tròn toả tia thường được hiểu là hình ảnh ngôi sao toả sáng.

Điều làm Khuê Văn Các đẹp là tỉ lệ. Lầu không lớn, nhưng nhờ phần dưới để trống, phần trên nhẹ bằng gỗ, toàn khối trông thanh và cao hơn kích thước thật. Sự tương phản giữa trụ gạch nặng, thô bên dưới và gác gỗ sáng, tinh bên trên là một bài học bố cục: phần đỡ để lộ sức nặng, phần được đỡ thì nhẹ như treo.

Đứng từ Đại Trung Môn nhìn vào, Khuê Văn Các nằm gọn trong khung cổng, cây cổ thụ hai bên làm viền. Đi qua lầu sang sân thứ ba rồi quay lại nhìn, bạn sẽ thấy mặt sau của lầu soi xuống giếng Thiên Quang trong những ngày lặng gió. Hình Khuê Văn Các đã được chọn làm biểu trưng của Hà Nội; nhìn thật mới thấy nó nhỏ và gần gũi hơn ảnh nhiều.

Giếng Thiên Quang và hai dãy nhà bia

Sân thứ ba mở rộng quanh một hồ nước vuông, gọi là giếng Thiên Quang, nghĩa là ánh sáng trời. Hình vuông của giếng và hình tròn của cửa sổ Khuê Văn Các ngay cạnh thường được giải thích theo quan niệm "trời tròn đất vuông" của người xưa; đó là một cách đọc phổ biến, hợp với tư duy thiết kế của thời đại, nhưng không có văn bản gốc nào ghi rõ ý đồ đó. Đọc như vậy là để thấy sự đối xứng hình học, không cần coi là luật.

Hai bên giếng là hai dãy nhà bia, mỗi dãy che những tấm bia đá đặt trên lưng rùa đá. Tổng cộng có 82 tấm, ghi tên những người đỗ tiến sĩ trong các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Các tấm bia không được dựng cùng lúc: nhiều tấm khoa đầu được dựng bù nhiều năm sau, các tấm khác dựng rải theo từng đợt. Chính vì vậy, đi dọc hàng bia là đi qua hơn ba thế kỷ phong cách chạm khắc.

Hãy nhìn tổng thể trước khi nhìn từng tấm: hàng bia xếp dưới mái ngói thấp, ánh sáng lọt qua khe mái và cây cổ thụ, rùa đá thẳng hàng, mặt nước phẳng ở giữa. Đây là một trong những không gian trưng bày ngoài trời có nhịp điệu đẹp nhất của kiến trúc cổ Việt Nam, và nó đẹp nhất vào buổi sáng sớm khi còn vắng.

Đọc một tấm bia và một con rùa

Trán bia. Phần trên cùng của bia thường chạm hình rồng chầu mặt trời, hoặc mây, lá đề, hoa lá. Bia thời Lê sơ có hoa văn mảnh, thoáng; các tấm muộn hơn thường chạm dày, nhiều lớp hơn. Đặt hai tấm cách nhau hơn trăm năm cạnh nhau, khác biệt hiện rõ.

Diềm bia. Hai bên mép bia có đường diềm hoa văn, thường là dây hoa, sóng nước hoặc mây cuộn. Các nhà nghiên cứu mỹ thuật dùng chính những hoa văn này cùng với văn khắc để xác định thời điểm dựng bia.

Dáng rùa. Những con rùa đội bia cũng thay đổi theo thời. Rùa ở các bia sớm thường có dáng thấp, đầu nhỏ, cổ ngắn, mai phẳng; rùa ở các bia muộn đầu to hơn, cổ vươn, mai cao, nét chạm cầu kỳ hơn. Đi dọc hàng và chỉ nhìn đầu rùa là một cách thú vị để thấy thời gian trôi.

Mặt chữ. Văn bia viết bằng chữ Hán, ghi lời văn của khoa thi và tên người đỗ. Nếu không đọc được chữ Hán, vẫn có thể nhận thấy cách bố cục cột chữ, độ sâu nét khắc và vết mòn của thời gian trên mặt đá.

Vết mòn trên đầu rùa. Nhiều đầu rùa mòn nhẵn vì một thời gian dài khách du lịch xoa đầu rùa theo một niềm tin truyền miệng. Hiện các dãy bia đã được rào bảo vệ, và những đầu rùa nhẵn bóng là bằng chứng vì sao cần rào.

Khu thờ và khu Thái Học: mái lớn, cột lớn

Qua Đại Thành Môn là sân Đại Bái, phía trước toà Đại Bái đường và phía sau là toà Thượng điện, nơi thờ Khổng Tử và các học trò, các bậc nho sĩ được tôn vinh. Với người ngắm kiến trúc, đây là chỗ để thấy kết cấu khung gỗ quy mô lớn của kiến trúc cổ phía Bắc: hàng cột gỗ tròn đặt trên chân tảng đá, hệ vì kèo đỡ mái ngói nặng, mái cong ở bốn góc. Bước vào trong, ngước lên sẽ thấy các lớp xà, kẻ chồng lên nhau như một bộ khung xương.

Ở khu này, nên để ý sự khác nhau giữa mái chính và mái hiên, giữa hàng cột cái ở trong và cột quân ở ngoài. Cột cái lớn và cao hơn, đỡ phần mái trên; cột quân thấp hơn, đỡ phần mái hiên. Sự chênh đó tạo ra mái dốc hai cấp mà khi nhìn từ sân trông như mái được nhấc nhẹ lên ở chân.

Khu Thái Học phía sau cùng là phần dựng lại trên nền Quốc Tử Giám xưa, khánh thành vào khoảng năm 2000. Kiến trúc mô phỏng phong cách cổ, quy mô lớn, hai tầng. Người khó tính có thể thấy nó mới và "sạch" hơn phần còn lại; nhìn theo hướng tích cực, đây là nơi bạn quan sát rõ nhất cách một bộ khung gỗ truyền thống được dựng hoàn chỉnh, trước khi thời gian kịp phủ lên lớp rêu và vết mòn.

Một vòng ngắm chừng hai giờ

Văn Miếu không lớn, nhưng đi vội thì chỉ thấy một chuỗi cổng và đám đông. Lộ trình gợi ý:

  1. Đến ngay khi mở cửa buổi sáng, lúc sân còn vắng và nắng nghiêng qua tán cây. Giờ mở cửa thay đổi theo mùa, kiểm thông tin của ban quản lý trước.
  2. Ở sân thứ nhất và thứ hai, đi đúng lối giữa, dừng ở mỗi cổng nhìn qua khung cổng về phía trước để thấy các lớp lồng vào nhau.
  3. Dừng lâu ở Khuê Văn Các: nhìn trụ gạch, gác gỗ, cửa sổ tròn; vòng sang sân sau nhìn lại.
  4. Đi trọn hai dãy bia, một dãy đi chậm nhìn trán bia, dãy kia chỉ nhìn đầu rùa để so dáng qua các thời.
  5. Vào sân Đại Bái, đứng giữa sân nhìn mái, rồi vào trong ngước nhìn hệ vì kèo.
  6. Kết thúc ở khu Thái Học, lên tầng trên nếu được phép, nhìn lại về phía cổng theo hướng ngược của trục.

Mùa thi cử và dịp tốt nghiệp, sân Văn Miếu đông người mặc áo cử nhân chụp ảnh; những ngày đầu năm âm lịch thì đông người đi xin chữ. Muốn ngắm kiến trúc yên tĩnh, tránh những dịp này.

Ứng xử ở Văn Miếu

Văn Miếu vừa là di tích quốc gia đặc biệt vừa là nơi nhiều người đến với tâm thế trân trọng việc học. Mấy điều nên giữ:

  • Không trèo qua rào để chạm vào bia, không xoa đầu rùa, không ngồi lên bệ bia.
  • Không khắc, viết, dán bất cứ thứ gì lên cột, tường, bia. Những vết khắc tên cũ trên vài trụ gạch là thứ không gỡ được.
  • Ăn mặc lịch sự, nhất là khi vào khu thờ; đi nhẹ, nói khẽ trong nhà Đại Bái và Thượng điện.
  • Không dùng đèn flash ở nơi có biển nhắc cấm; không đặt chân máy chắn lối đi hẹp giữa các cổng.
  • Thả flycam trong khu di tích và giữa nội đô cần xin phép theo quy định hiện hành; thường là không được.
  • Tôn trọng những nhóm học sinh, sinh viên đang làm lễ hoặc chụp ảnh tốt nghiệp; chờ một chút thay vì chen vào khung hình của họ.

Giá vé và giờ mở cửa do ban quản lý quy định và có thể thay đổi; các chương trình tham quan đặc biệt cũng có lịch riêng từng năm.

Câu hỏi thường gặp

Văn Miếu và Quốc Tử Giám khác nhau thế nào?

Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử và các bậc nho học, lập năm 1070. Quốc Tử Giám là trường học cao nhất của nhà nước phong kiến, lập năm 1076 ngay cạnh đó. Hai phần gắn liền nhau trên cùng một trục nên ngày nay được gọi chung là Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Có phải tất cả bia tiến sĩ đều còn nguyên?

Theo ghi nhận, hiện còn 82 tấm bia ghi các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779, trong khi số khoa thi trong khoảng thời gian đó nhiều hơn; một số bia có thể chưa từng được dựng hoặc đã thất lạc. Các tấm còn lại đã được UNESCO ghi danh là di sản tư liệu.

Vì sao Khuê Văn Các có cửa sổ hình tròn?

Cửa sổ tròn với các thanh gỗ toả ra thường được hiểu là hình ảnh sao Khuê toả sáng, ngôi sao gắn với văn chương trong quan niệm xưa. Về kiến trúc, cửa sổ tròn làm gác gỗ nhẹ nhàng hơn và tương phản với các trụ gạch vuông bên dưới.

Văn Miếu có gì đáng xem vào buổi tối không?

Một số thời điểm, ban quản lý tổ chức chương trình tham quan buổi tối có chiếu sáng nghệ thuật. Ánh đèn làm nổi Khuê Văn Các và hàng bia theo kiểu khác hẳn ban ngày. Lịch và hình thức thay đổi theo năm, nên kiểm thông tin hiện hành trước khi đi.

Chụp ảnh ở Văn Miếu có bị hạn chế không?

Chụp ảnh lưu niệm thông thường được phép ở các sân. Một số khu vực trong nhà có thể hạn chế đèn flash hoặc chân máy; chụp thương mại, quay phim chuyên nghiệp hay chụp ảnh cưới thường cần đăng ký với ban quản lý. Quy định cụ thể nên hỏi tại chỗ.

Văn Miếu ở Hà Nội có giống Văn Miếu ở nơi khác?

Nhiều địa phương từng có văn miếu riêng, như Văn Miếu ở Huế, Văn Miếu Xích Đằng ở Hưng Yên, Văn Miếu Trấn Biên ở Đồng Nai. Chúng cùng chức năng tôn vinh việc học nhưng khác quy mô và phong cách. Văn Miếu Hà Nội nổi bật vì lâu đời nhất và có hệ thống bia tiến sĩ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.